316 triệu thùng dầu dự trữ của Mỹ: Tưởng nhiều mà hoá ít
Kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược Mỹ còn 316 triệu thùng vào đầu tháng 7/2026, mức thấp nhất kể từ năm 1983. Phần lớn khối lượng đó nằm dưới các mốc sàn kỹ thuật và pháp lý không được phép chạm tới. Khi chiến tranh Iran tái bùng phát và eo biển Hormuz tắc nghẽn trở lại, thị trường định giá theo lượng dầu có thể rút được ra, không phải theo con số nằm im trong kho.

Tuần kết thúc ngày 10/7/2026, tồn kho Dự trữ Dầu mỏ Chiến lược Mỹ (SPR) lùi về 316.5 triệu thùng, mức thấp nhất kể từ năm 1983. Cùng thời điểm, giá dầu Brent chốt phiên 78 USD/thùng, tăng 5.2% chỉ trong một ngày.
Trước đó vào tháng 3/2026, Mỹ khởi động đợt xả 172 triệu thùng phối hợp với Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) nhằm bù phần nguồn cung mất đi do chiến sự với Iran và eo biển Hormuz bị gián đoạn. Hai sức ép cộng lại làm tấm đệm dự trữ mỏng đi nhanh hơn mọi kịch bản từng diễn ra trong lịch sử
Toàn bộ dầu của SPR nằm trong khoảng 60 hầm muối tự nhiên sâu từ 600 đến 1,200 mét, tại 4 cơ sở ven vịnh thuộc bang Texas và Louisiana. Bộ Năng lượng Mỹ chọn cấu trúc hầm ngầm tự nhiên vì chi phí đầu tư chỉ khoảng 3.5 USD/thùng, rẻ hơn ít nhất 5 lần so với mức 15 đến 18 USD/thùng của bể thép trên mặt đất.
Áp lực địa chất tự hàn kín các vết nứt phát sinh trong lòng muối, còn chênh lệch nhiệt độ giữa đỉnh và đáy hầm giữ dầu luân chuyển liên tục để chất lượng không đổi. Sức chứa được Quốc hội Mỹ cho phép là 714 triệu thùng, và kho từng chạm đỉnh 726.6 triệu thùng vào ngày 27/12/2009.
Tuy nhiên, con số 316.5 triệu thùng chỉ đo lượng dầu đang nằm dưới lòng đất, không đo lượng dầu có thể đưa ra thị trường. Khoảng cách giữa hai đại lượng này bắt nguồn từ chính cách lấy dầu ra khỏi hầm muối, vì mỗi lần bơm dầu lên là một lần phá hủy một phần cấu trúc bể chứa tự nhiên.

Mỗi lần xả kho là một lần bào mòn hầm chứa
Các kỹ sư SPR lấy dầu bằng cách bơm nước ngọt hoặc nước muối chưa bão hòa xuống tận đáy hầm. Dầu nhẹ hơn nước nên nổi lên và tràn ra ngoài qua giếng khai thác. Cách làm này rẻ và nhanh, nhưng cũng gây ra tác dụng phụ.
Nước ngọt gặp muối thì hòa tan muối. Theo các phép đo của ngành, cứ 100 thùng dầu rút ra, lượng nước bơm vào hòa tan thêm khoảng 15 thùng muối đá ở vách và đáy hầm. Vách hầm mỏng dần sau mỗi chu kỳ, còn hình dạng hầm biến dạng theo hướng khó kiểm soát.
Thiết kế ban đầu cho phép mỗi hầm chịu tối đa 5 chu kỳ xả và nạp toàn phần. Đợt xả khẩn cấp 180 triệu thùng năm 2022, sau khi Nga tấn công Ukraine, đã hòa tan khoảng 34 triệu thùng muối đá vách hầm và tiêu hết trọn một chu kỳ xả-nạp của 20 hầm.
Phòng thí nghiệm Quốc gia Sandia, đơn vị theo dõi tình trạng địa chất của SPR, ghi nhận hầm BC-18 tại cơ sở Bayou Choctaw không còn lần xả toàn phần nào khả dụng, còn hầm BM-103 tại cơ sở Bryan Mound chỉ còn một lần. Tuổi thọ hầm chứa đã trở thành một loại tài nguyên hữu hạn giống như chính lượng dầu bên trong.
Vách hầm không tự mọc lại được, nên phần dầu nằm sát đáy phải ở nguyên chỗ để giữ áp suất cho cấu trúc. Từ ràng buộc đó sinh ra một hệ thống mức sàn tối thiểu mà tồn kho không được phép đi qua.
4 mức sàn của kho dự trữ
Sau hàng chục năm lưu trữ, hydrocacbon nặng, sáp và nhựa đường (asphaltene) lắng xuống tạo thành một lớp bùn đặc ở đáy hầm. Khối lượng cặn đáy này ước tính từ 50 đến 70 triệu thùng. Lớp bùn giữ áp lực cơ sở cho hầm nhưng không thể bơm vào nhà máy lọc dầu vì gây tắc nghẽn và làm hỏng tháp chưng cất.
Bộ Năng lượng Mỹ đặt sàn kỹ thuật lý thuyết ở 70 triệu thùng, mức chất lỏng tối thiểu đủ tạo áp suất để bảo vệ lớp vách xung quanh không bị sụp xuống. Phòng thí nghiệm Quốc gia Sandia đặt sàn địa chất an toàn cao hơn, ở 150 triệu thùng, vì dưới ngưỡng này độ toàn vẹn của vách muối không còn đáng tin cậy.
Đạo luật Chính sách và Bảo tồn Năng lượng (EPCA) dựng một ranh giới pháp lý ở 252.4 triệu thùng. Dưới mức đó, Bộ trưởng Năng lượng mất quyền xả kho giới hạn, vốn cũng chỉ được tối đa 30 triệu thùng trong 60 ngày cho mỗi lần gián đoạn. Chỉ một tuyên bố gián đoạn nguồn cung nghiêm trọng từ Tổng thống mới mở lại được van.
Viện Dầu khí Mỹ (API) và giới kỹ sư vận hành đặt mốc thực tiễn cao hơn cả ba con số trên, ở mức 300 triệu thùng. Khi tồn kho tiệm cận ngưỡng này, rủi ro nứt vách tăng lên và lưu lượng xả giếng bắt đầu tụt nhanh.
Ở mức 316.5 triệu thùng, phần dầu rút được an toàn trước khi chạm sàn vận hành chỉ còn 16.5 triệu thùng, tương đương 5.2% tổng dự trữ. Con số 5.2% mới là giới hạn về khối lượng. Giới hạn thứ hai nằm ở tốc độ, tức số thùng dầu kho có thể đẩy ra đường ống mỗi ngày.
Van xả hẹp dần ở cả 4 cửa kho
Tốc độ xả của SPR phụ thuộc vào áp suất thủy tĩnh bên trong hầm. Bộ Năng lượng Mỹ công bố công suất xả danh định tối đa 4.4 triệu thùng/ngày, duy trì được khoảng 90 ngày, với 13 ngày kể từ quyết định của Tổng thống đến khi dầu vào thị trường. Con số đó ứng với một kho gần đầy.
Ở mức tồn kho hiện tại, áp suất trong hầm giảm và lực đẩy của dòng nước bơm vào yếu đi. Tổng công suất xả thực tế của 4 cụm dự trữ hạ xuống 2.7 triệu thùng/ngày, chưa bằng 2/3 năng lực thiết kế.
Cơ sở Big Hill tại bang Texas, nơi còn 89.1 triệu thùng tính đến ngày 25/6/2026, hiện có tốc độ xả bằng 0 vì bảo dưỡng đường ống và ngừng thi công. Cơ quan Kiểm toán Chính phủ Mỹ (GAO) ghi nhận tình trạng rò rỉ ở hệ thống bơm xả nước muối tại chính cơ sở này. Cơ sở West Hackberry tại bang Louisiana chỉ còn 0.75 triệu thùng/ngày do tồn kho các hầm ở đây xuống quá thấp.
Cơ sở Bayou Choctaw giữ tốc độ 0.45 triệu thùng/ngày để hạn chế rủi ro nứt vách muối tiếp giáp công trình khai thác lân cận. Cơ sở Bryan Mound, cụm lớn nhất với 155.4 triệu thùng, đạt 1.5 triệu thùng/ngày nhưng đang ghi nhận áp suất hơi của dầu thô tăng do nhiệt rò rỉ từ địa tầng.
GAO cho biết dự án kéo dài tuổi thọ hạ tầng trị giá 1.4 tỷ USD, chạy suốt một thập kỷ, vẫn chưa đạt mục tiêu, trong khi danh sách sửa chữa tồn đọng tiếp tục dài ra.
Kể từ năm 1985, Mỹ đã xả hơn 500 triệu thùng từ SPR, gần 70% khối lượng đó rơi vào giai đoạn 2014 đến 2025. Hạ tầng cũ xuống cấp nhanh hơn tốc độ được sửa, và thị trường tài chính đọc được cả hai giới hạn này.

Thị trường định giá lại một tấm đệm đã mỏng
Giới giao dịch từng coi SPR là nguồn cung dự trữ đủ lớn để dập kỳ vọng tăng giá. Các đợt xả quy mô lớn bơm thêm cung vào đúng lúc thiếu hụt và kéo giá về điểm cân bằng trong những gián đoạn ngắn. Khi tồn kho rơi về 316.5 triệu thùng và công suất xả chỉ còn 2.7 triệu thùng/ngày, công cụ điều tiết gặp trục trặc đúng vào lúc chiến tranh Iran tái bùng phát và Hormuz lại tắc nghẽn.
Sự thay đổi về định giá diễn ra theo ba nấc. Nấc đầu là phản ứng tuyến tính, giá tăng theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với lượng cung thiếu hụt. Nấc thứ hai bắt đầu khi tồn kho SPR tiệm cận 300 triệu thùng và các mô hình định lượng nạp thêm dữ liệu về giới hạn lưu lượng xả cùng số chu kỳ còn lại của hầm muối.
Nấc thứ ba đưa thị trường vào trạng thái khan hiếm vật chất, khi việc phân bổ theo khối lượng thay thế phản ứng tâm lý rủi ro. Nhà máy lọc dầu tăng mua giao ngay để giữ dây chuyền chạy, bất kể giá.
Chuyên gia tại Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng thuộc Đại học Rice ước tính 100 đến 150 triệu thùng còn trong kho dự trữ chiến lược có thể đã không còn phù hợp với các nhà máy lọc dầu hiện nay hoặc với tiêu chuẩn xuất khẩu.
Công suất xả tối đa của SPR hiện là 2.7 triệu thùng/ngày, trong khi lượng dầu bị gián đoạn qua Hormuz vào khoảng 10-20 triệu thùng/ngày. Khoảng cách gần 4-8 lần đó không thể lấp bằng bất kỳ quyết định hành chính nào. Các mô hình định giá cho rằng nếu phong tỏa kéo dài quá 30 ngày, giá dầu Brent có thể vượt vùng kháng cự kỹ thuật để lên 120 đến 150 USD/thùng.
Bài toán kỹ thuật cản đường chính sách
Mỹ không thể rút cạn kho dự trữ chiến lược của mình vì ba ràng buộc vật chất cùng lúc: cặn đáy không bơm được, vách muối tan dần sau mỗi chu kỳ, và áp suất thủy tĩnh phải giữ ở mức tối thiểu để hầm không sập. Ba ràng buộc đó có trước mọi quyết định chính trị và không đổi theo tuyên bố khẩn cấp.
Ở mức tồn kho 316.5 triệu thùng, phần dầu có thể được rút ra an toàn chỉ bằng một ngày lưu lượng dầu đi qua eo biển Hormuz. Số liệu tồn kho vì thế đã mất phần lớn giá trị trấn an mà nó từng mang.
Trong nửa thế kỷ, SPR được xây như một lời hứa rằng nước Mỹ luôn có hàng để đổ vào thị trường mỗi khi nguồn cung đứt. Lời hứa ấy giờ bị giới hạn bởi tốc độ dòng chảy trong một hầm muối dưới lòng bang Texas, và thị trường đã bắt đầu định giá theo giới hạn đó thay cho con số ghi trên bảng tồn kho.
Đức Quyền
Vietstock.vn
GoonTrading Đánh giá Broker